Thứ Bảy, 29 tháng 12, 2018

Bình Giảng Thơ Lu Hà Do Thu Hà Diễn Ngâm Phần 43


"Nhật Nguyệt Nhớ Thương" và "Lòng Tự Hỏi Lòng".

Lâu lắm không thấy Thu Hà ngâm thơ anh. Hôm nay em ngâm bài “Nhât Nguyệt Nhớ Thương“ cảm hứng từ bài hát “Nhớ Nhau Hoài”. Anh Lu Hà rất vui và xúc động. Chắc chắn anh sẽ viết một bài bình giảng hay theo khả năng và sự cố gắng của anh. Biết đâu đấy nhỉ? Trời biết, đất biết, qủy thần biết, lương tâm con người biết. Anh hy vọng một ngày nào đó bộ giáo dục Việt Nam sẽ thu lợm tất cả những bài bình giảng thơ của anh để làm thành một giáo trình giảng dạy cho các trường trung học đại học về văn chương. Đối với thơ người khác làm thì anh viết bài bình thơ để bình gía bài thơ khen chê rõ ràng minh bạch. Còn thơ anh làm thì viết bình giảng, mục đích không phải tự khen thơ mình hay mà giảng giải lại từng câu chữ từ trong trái tim tâm hồn cảm xúc của mình.

Bình Giảng Thơ Lu Hà Do Thu Hà Diễn Ngâm Phần 42


Nữ thi sĩ Giang Hoa mới sáng tác bài thơ và được Thu Hà ngâm ngay. Tôi nghe ngâm và đọc lời bài thơ rất thú vị và cũng từ bài thơ 7 chữ viết theo lối thơ mới tứ tuyệt trường thiên không đối câu đối chữ mà cảm hứng ra bài thơ song thất lục bát. Thơ Giang Hoa tôi xin miễn bình giảng có thể sau này viết một bài bình luận. Tôi xin bình giảng riêng bài Hồn Trinh Bướm Trắng của tôi thôi. Mục đích giảng giải ý nghĩa câu chữ và cảm xúc của tôi về bài thơ này.

Bình Giảng Thơ Lu Hà Do Thu Hà Diễn Ngâm Phần 41


Kể từ khi Chúa sinh ra loài người, trái tinh cầu của chúng ta phân ra phương Tây và phương Đông. Kỳ lạ thay phương Tây lại là quê hương của các văn nhân hiền triết, xứ sở này rất ưa chuộng hâm mộ nhân tài. Rất hiếm hoi ai đó vì văn hay chữ tốt uyên bác thông thái về học thuật mà bị nguy hiểm đe dọa đến tính mạng. Còn phương Đông bản tính con người bần tiện, tiểu nhân nhung nhúc như giòi bọ.  Sĩ tử làm thơ viết văn phải tránh dùng chữ trùng với tên nhà Vua, với họ mạc cụ kỵ mấy đời của nhà Vua và Hoàng Hậu.

Lu Hà Và Văn Thi Nhân Chùm Số 98


Bài Ca Hoang Dã
cảm xúc nhạc Thanh Sơn: Hạ Buồn

Đêm mùa hạ nơi miền quan ải
Chim cú kêu tê tái ve sầu
Mưa buồn suốt cả canh thâu
Dế giun tấu nhạc hỏa châu hầm hào

Bình Giảng Thơ Lu Hà Do Thu Hà Diễn Ngâm Phần 40


Phần khúc ca Hồ Trường của ông Nguyễn Bác Trác tôi xin miễn trích dẫn, tôi xin bình giảng ngay nội dung bài thơ của tôi cảm khái ra thành “Giọt Lệ Canh Thâu“
Thơ viết theo lối tứ tuyệt trường thiên không đối câu đối chữ, tôn trọng niêm luật như thơ đường. Ta thường gọi là thể thơ mới 7 chữ mà các vị đàn anh thời tiền chiến như Tản Đà, Nguyễn Bính hay làm.

Bình Giảng Thơ Lu Hà Do Thu Hà Diễn Ngâm Phần 39


Hồ Trường là một thi phẩm của ông Nguyễn Bá Trác viết vào đầu thế kỷ 20. Ông từng theo Cụ Phan Bội Châu trong phong trào Đông Du và hưởng ứng phong trào Đông Kinh của Cụ Phan Châu Trinh. Từng làm quan dưới triều vua nhà Nguyễn.
Ông là chủ bút phần Hán Văn của tờ Nam Phong do quan đại thần Phạm Quỳnh sáng lập.
Sau thôi làm ở báo Nam Phong, ông vào Huế làm Tá lý Bộ Học và lần lượt trải qua các chức vụ: Tuần vũ Quảng Ngãi, Thị lang Bộ Binh, Tổng đốc Thanh Hóa, Tổng đốc Bình Định.

Bình Giảng Thơ Lu Hà Do Mai Hoài Thu Phổ Nhạc Phần 38


Bài thơ lục bát“ Giọt Sầu Em Gửi Cho Ai“ của tôi viết tặng nhà thơ kiêm nhạc sĩ Mai Hoài Thu đã được ca sĩ Nguyễn Đông trình diễn theo tôi là rất thành công.
Thơ lục bát phổ theo nốt nhạc Tây được giọng nam ca sĩ hát theo cung điệu trầm buồn là tổng hợp của các làn điệu nhạc nhẹ, nhạc vàng, ngâm thơ tao đàn. Tôi nghe như tiếng nỉ non ai oán sầu bi kiểu cung oán ngâm khúc và trinh phụ ngâm, âm điệu thật là buồn . Thơ nhạc Việt Nam phải buồn mới đạt yêu cầu. Thơ tình phải buồn nhạc tình phải buồn gịọng hát phải buồn thì mới đáng gọi là nhạc vàng theo kiểu mẫu mà các nhạc sĩ miền Nam sáng tác trước năm 1975.

Bình Giảng Thơ Lu Hà Do Thu Hà Diễn Ngâm Phần 36


Các bậc đàn anh thời tiền chiến có một nét giống nhau là thích làm thơ 7 chữ, Nguyễn Bính và Thâm Tâm là tiêu biểu. Xuân Diệu, Hàn Mạc Tử, Vũ Hoàng Chương , Hồ Dzech ngoài 7 chữ ra thường là thơ 8 chữ. Theo tôi thơ 8 chữ dễ viết hơn nên phái nữ thời nào cũng rất hăng hái thể thơ này. Riêng Tản Đà thì kiểu nào cụ cũng chơi, qủa là một tay lợi hại cự phách trong làng thơ. Không phải là hậu sinh khả úy. Tôi may mắn sinh sau nên được thừa hưởng phần nào gia tài các bậc tiền bối để lại, tha hồ mà học tập . Nhưng thật lòng tôi cũng hơi chê các bậc tiền bối còn coi nhẹ thơ lục bát và hình như không thấy cái cao siêu, bác học, siêu hình huyền diệu của thơ song thất lục bát?

Bình Giảng Thơ Lu Hà Do Thu Hà Diễn Ngâm Phần 35


Cố thi sĩ Đinh Hùng viết bài thơ 7 chữ “ Gặp Nhau Lần Cuối“ 7 khổ 28 câu. Tôi cảm dịch sang thể thơ song thất lục bát có rút ngắn lại còn 6 khổ 24 câu. Thời thi sĩ Đinh Hùng là thời kỳ thơ mới phát triển, các vị thi sĩ  nhà ta có xu hướng biến đổi thơ đường luật thất ngôn bát cú hay tứ tuyệt thành thể thơ 7 chữ trường thiên không cần đối câu đối chữ nữa để tả tình. Có sự lạ xuất hiện thêm thơ 8 chữ nhưng song thất lục bát thì lại viết rất ít là một điều đáng tiếc. Thơ song thất lục bát rất hợp với lối ngâm thơ tao đàn. Có lẽ song thất lục bát làm ra là để ngâm nga. Thật là tôi có duyên may mới gặp cô Trần Thu Hà trên cõi đời này, cô ta lại có sở trường về ngâm thơ, riêng thơ song thất lục bát rất hợp với âm điệu Huế. Nghe sao mà réo rắt thanh cao thế, chả khác chi nơi cung đình vua chúa phong lưu đài các ngày xưa vậy.

Bình Giảng Thơ Lu Hà Do Thu Hà Diễn Ngâm Phần 34


Thâm Tâm viết bài thơ “Dang Dở “gồm 11 khổ tức 44 câu thể thơ 8 chữ. Còn tôi từ cái hồn thơ của Thâm Thâm chuyển dịch sang tâm hồn tôi thành bài thơ song thất lục bát cũng 11 khổ tức 44 câu. Nhưng tâm trạng khí khái hoàn toàn khác nhau, một Thâm Tâm xót xa nuối tiếc hận tình mà muốn trút hết oán thù vào đầu kẻ thù xâm lược. Thời đó là người Pháp đây? Thâm Tâm muốn làm một Kinh Kha nơi chiến địa vì thất tình mà đổ cho là số kiếp nên thà chết quách đi cho rảnh.

Bình Giảng Thơ Lu Hà Do Thu Hà Diễn Ngâm Phần 33


Để tri ân Thu Hà đã diễn ngâm và cũng là muốn làm món qùa kỷ niệm cho những ai thực lòng mến mộ. Tôi sẽ bình giảng bài thơ “Đêm Mưa Sầu mộng“ mà tôi phỏng dịch cảm hứng từ thơ cố thi si Đinh Hùng bài: “ Chớp Bể Mưa Nguồn“. Để tránh hiệu ứng nhàm chán, nên Đinh Hùng viết 8 khổ thơ mới 7 chữ thì tôi rút ngắn lại còn 6 khổ thơ song thất lục bát. Ý lời hoàn toàn khác với Đinh Hùng. Ví như tâm hồn tôi đã hấp dẫn linh hồn Đinh Hùng trong vũ trụ biển cải nỗi niềm suy tư của anh thành của tôi. Trời phú cho dân tộc Việt Nam ta có Thơ song thất lục bát, Thơ lục bát, làm ra là để ngâm nga. Thơ 8 chữ hay 5 chữ cũng rất dễ ngâm. Riêng thơ 7 chữ với những bài chừng 20 câu  tới 28 câu ngâm là thú vị nhất. Những bài dài quá sẽ gây hiệu hứng nhàm chán bởi lối gieo vần đều đều của đường thi. Theo tôi người ngâm sẽ rất mệt mỏi, cảm thấy đôi chút khó khăn. Tôi thấy có nhiều người ngâm cả thơ đường của bà Hồ Xuân Hương, đành rằng thơ bà thâm thúy lắm ý nghĩa hay. Nhưng những bài vịnh cái quạt, vịnh anh lính thú vân vân nữ sĩ có ý bỡn cợt cả bộ phận sinh dục đàn ông đàn bà mà các cô các mợ  ấy cũng ngâm nga. Theo tôi là vô duyên, nếu có ngâm nga thì để cho cánh đàn ông họ ngâm tếu táo cho vui. Theo như các cụ nhà ta thì thơ đường làm ra vốn dĩ là để đọc. Nhưng ngày nay ở Việt Nam nhiều bài thơ tả tình viết bằng đường thi ngâm nga cũng rất hay.

Bình Giảng Thơ Lu Hà Do Thu Hà Diễn Ngâm Phần Phần 32


Đinh Hùng viết bài “Hương“ bằng thể thơ mới 7 khổ 28 câu, còn tôi nhân đó cảm hứng sang bài thơ khác bằng thể song thất lục bát cũng 7 khổ 28 câu. Nếu các bạn có thời gian so sánh từng khổ từng câu cả hai bài thơ, sẽ thấy sự khác biệt nhau rõ rệt, ý lời câu chữ nhưng tâm hồn vẫn đồng điệu  hòa nhịp cho nhau. Thơ song thất lục bát theo tôi là thể khó làm nhất. Anh phải từ cái nền móng cơ bản là thơ đường luật, thơ 7 chữ, thơ lục bát thật nhuần nhuễn mới nên bắt tay vào viết song thất lục bát. Nếu không anh sẽ lạc vận bởi vần trắc. Trong lịch sử thơ song thất lục bát có 2 vị đại tổ sư đó là tướng công Ôn Như Hầu Nguyễn Gia Thiều và nữ sĩ Hồng Hà tức Đoàn Thị Điểm:
Trải vách quế gió vàng hiu hắt
Mảnh vũ y lạnh ngắt như đồng
Oán chi những khách tiêu phòng
Mà xui phận bạc nằm trong má đào?“

Bình Giảng Thơ Lu Hà Do Thu Hà Diễn Ngâm Phần 31


“Trường Tình Ca Hồn Ma Trinh Nữ“ của tôi gồm 37 khổ và 148 câu thơ song thất lục bát, cảm dịch từ thơ 7 chữ cũng 37 khổ của Đinh Hùng bài: “ Trái Tim Hồng Ngọc“.

Tôi cảm hứng từ linh hồn Đinh Hùng mà để nhập thần hấp dẫn sang linh hồn tôi, ý thơ ngôn từ có thể hoàn toàn khác hẳn với Đinh Hùng. Bài thơ này theo trường phái tượng trưng siêu nhiên, siêu hình học, lạc vào cảnh giới vô thức của tâm linh nhưng luôn theo một trình tự lo gic duy tâm biện chứng pháp. Thơ tả cảnh giới  thanh u của một âm hồn trinh nữ lần đầu trong đời tôi được nghe Thu Hà diễn ngâm. Vì thơ dài nên Thu Hà đã diễn ngâm clip số 1 là 12 khổ 48 câu. Clip số 2 cũng 12 khổ 48 câu. Clip số 3 sẽ là 13 khổ 52 câu. Vậy diễn ngâm tới đâu tôi sẽ theo sát bình giảng tới đó để tri ơn cô Thu Hà và giúp ích cho các bạn muốn thưởng lãm tường tận ý nghĩa bản trường ca ma mị thú vị này.

Lu Hà Và Văn Thi Nhân Chùm Số 97


Vợ Chồng Tào Khang
Cảm xúc nhạc Pháp: Je N´ais Pas Change

Thư cưu trống mái xưa nay
Không lời gian dối đổi thay tấc lòng
Đắng cay chìm nổi long đong
Cuốc kêu khắc khoải theo dòng đời trôi

Lu Hà Và Văn Thi Nhân Chùm Số 96


Chuyện Tình Buồn
cảm xúc nhạc Ngân Giang: Đôi Mắt Người Xưa

Tình mây khói tan vào dĩ vãng
Giọt mưa thu cay đắng lòng tôi
Ngậm ngùi nhìn cánh bèo trôi
Vấn vương bụi đỏ luân hồi trần gian